1.     THÔNG TIN CHUNG

Tổng công ty viễn thông Toàn Cầu là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 100% vốn Nhà nước, do Bộ Công an làm Chủ sở hữu, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

  • Tên giao dịch quốc tế: Global Telecomunications Corporation
  • Tên viết tắt: GTEL
  • Năm thành lập: 2007
  • Quyết định thành lập: số 1359/2007/QĐ-BCA(E11) ngày 28/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an
  • Vốn điều lệ: 616.000.000.000 VNĐ (sáu ngàn sáu trăm mười sáu tỷ đồng)
  • Mã số doanh nghiệp: số 0102556773, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội cấp (lần thứ nhất) ngày 05/12/2007
  • Địa chỉ Trụ sở chính:      số 280B Lạc Long Quân, P. Bưởi, Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội
  • Chủ sở hữu Bộ Công an
  • Cơ quan đại diện CSH Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an
  • Địa chỉ các Văn phòng giao dịch:
    • Tại Hà Nội:                số 280B Lạc Long Quân, Q. Tây Hồ
    • Tại Đà Nẵng: số 18 Lý Tự Trọng, Q. Hải Châu
    • Tại TP HCM: số 47 Phạm Viết Chánh, Quận 1

 2.     CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG

2.1. Chức năng, nhiệm vụ

Tổng công ty GTEL được thành lập nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ:

– Xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc có tính sẵn sàng, an toàn và có độ dự phòng cao cho lực lượng Công an nhân dân, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, tin cậy trong mọi tình huống;

– Sản xuất, lắp ráp, chế tạo các thiết bị, sản phẩm, phát triển phần mềm và các dịch vụ kỹ thuật; sửa chữa, duy tu bảo dưỡng thiết bị viễn thông;

– Tận dụng các hệ thống truyền dẫn và hạ tầng viễn thông được Bộ Công an giao để kinh doanh có hiệu quả, trên cơ sở đó duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa và phát triển hệ thống viễn thông, tin học chuyên dùng ngành Công an;

– Tham gia đầu tư, triển khai, nâng cấp và hoàn thiện mạng viễn thông, tin học của ngành Công an;

– Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng giải pháp bảo đảm an ninh mạng; thiết kế, chế tạo sản phẩm chuyên dụng phục vụ công tác bảo đảm an ninh mạng, sản phẩm kỹ thuật công nghệ cao cho lực lượng Công an nhân dân.

– Đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức mới, hiện đại trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật của lực lượng Công an.

– Trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề được giao, kết hợp với chức năng đầu tư tài chính theo quy định của pháp luật.

– Đầu tư vào các công ty con, các công ty liên kết; chi phối các công ty con thông qua vốn, nghiệp vụ, công nghệ, thương hiệu, thị trường hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ này.

– Thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn của GTEL tại các công ty con, doanh nghiệp thành viên, công ty liên kết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của GTEL theo hợp đồng liên kết đối với các công ty tự nguyện liên kết.

– Tổ chức sản xuất kinh doanh theo quy hoạch, kế hoạch và chính sách của Nhà nước; đảm bảo kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại GTEL và vốn của GTEL đầu tư tại các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ khác do Chính phủ và Bộ Công an giao.

– Xây dựng và phát triển thành tập đoàn kinh tế-an ninh mạnh, năng động hiện đại, có năng lực cạnh tranh; đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển và thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; bảo đảm cơ cấu hợp lý, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh viễn thông, công nghệ thông tin, và nghiên cứu, sản xuất thiết bị mạng viễn thông, thiết bị công nghiệp an ninh mạng; góp phần thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội và quốc phòng, an ninh; làm nòng cốt để ngành viễn thông và công nghệ thông tin Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

2.2. Lĩnh vực hoạt động

– Triển khai cung cấp các dịch vụ Viễn thông và Công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, truyền thông đa phương tiện; an ninh mạng; hoạt động thương mại điện tử. Cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động.

– Sản xuất kinh doanh các dịch vụ ứng dụng, dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình.

– Cung cấp dịch vụ giao dịch điện tử, cung ứng dịch vụ tài chính, dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán, trung gian tiền tệ; dịch vụ trò chơi điện tử, trang tin điện tử, mạng xã hội và các dịch vụ khác được phát triển trên nền tảng công nghệ, dịch vụ, sản phẩm mà GTEL cung cấp.

– Tư vấn quản lý, khảo sát, thiết kế, xây dựng, lập dự án, quản lý dự án đầu tư, xây lắp, điều hành, vận hành khai thác, bảo dưỡng, sửa chữa, cho thuê công trình, thiết bị, hạ tầng mạng lưới viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình; cho thuê máy móc, thiết bị và đồ dùng hữu hình khác.

– Nghiên cứu, phát triển, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, đào tạo, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, an ninh mạng và mật mã dân sự.

– Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển; nghiên cứu, phát triển, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, chuyển giao công nghệ, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh, thương mại, phân phối, bán buôn, bán lẻ hàng hóa, sản phẩm, máy móc, thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin, an ninh mạng, truyền hình và truyền thông đa phương tiện.

– Hoạt động quảng cáo, nghiên cứu thị trường; hoạt động tư vấn quản lý tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại.

– Cho thuê văn phòng, cơ sở nhà đất (đối với phần diện tích của trụ sở, văn phòng làm việc, cơ sở, địa điểm phục vụ sản xuất kinh doanh của GTEL nhưng chưa sử dụng hết).

 

2.3. Các giấy phép

GTEL đã được cơ quan quản lý Nhà nước cấp các giấp phép quan trọng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin:

– Giấy phép thiết lập và kinh doanh mạng viễn thông di động mặt đất

– Giấy phép thiết lập và kinh doanh mạng điện thoại cố định

– Giấy phép thiết lập và kinh doanh mạng Internet

– Giấy phép thiết lập và kinh doanh mạng Wimax

– Giấy phép thiết lập và kinh doanh mạng VoIP

2.4. Các dịch vụ viễn thông đang cung cấp

– Dịch vụ đầu số cho thuê 1900/1800/10xx

– Dịch vụ Internet FTTH

– Dịch vụ thuê kênh riêng Leadsed line

– Dịch vụ thoại VoIP cho doanh nghiệp

– Dịch vụ video hội nghị truyền hình

– Dịch vụ cho thuê, đặt chỗ máy chủ – colocation server

– Dịch vụ cho thuê máy chủ – delicated server

– Dịch vụ cho thuê máy chủ ảo

– Dịch vụ wifi chuyên dụng/tầm xa

– Dịch vụ tin nhắn thương hiệu

 3.     TỔ CHỨC, BỘ MÁY

  • Tổng giám đốc: Thượng tá Đặng Ngọc Tín
  • Các đơn vị trực thuộc Tổng giám đốc:
    • Ban Tổ chức, Hành chính và Pháp chế
    • Ban Đầu tư, Tài chính và Kế toán
    • Ban Tiếp thị và Dịch vụ khách hàng
    • Ban Kỹ thuật và Công nghệ
    • Trung tâm Dịch vụ giá trị gia tăng
    • Trung tâm dịch vụ viễn thông miền Bắc
    • Trung tâm dịch vụ viễn thông miền Nam
    • Văn phòng đại diện tại miền Trung
    • Văn phòng đại diện tại miền Nam
  • Các Công ty thành viên do Tổng công ty GTEL sở hữu, chi phối:
    • Công ty CP viễn thông di động Toàn Cầu (GTEL-MOBILE): kinh doanh dịch vụ viễn thông di động GSM với thương hiệu Beeline (đã đổi tên thành Gmobile), đầu số 099 và 059. Mạng di động Gmobile hiện có khoảng 3,5 triệu thuê bao đang hoạt động.
    • Công ty TNHH truyền dẫn và dịch vụ hạ tầng GTEL (GTEL-TIS): hoạt động trong lĩnh vực cung cấp hạ tầng truyền dẫn cho mạng viễn thông và các mạng thông tin liên lạc chuyên dùng; xây lắp các công trình hạ tầng viễn thông, thông tin liên lạc.
    • Công ty TNHH công nghệ thông tin và truyền thông GTEL (GTEL-ICT): hoạt động trong lĩnh vực giải pháp tích hợp hệ thống và quản lý thông tin; cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng, thanh toán di động; thi công xây lắp hệ thống điện, báo cháy, CCTV, tổng đài tiện thoại…
    • Công ty CP thương mại và dịch vụ kỹ thuật GTEL (GTEL-TSC): hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, kinh doanh vật tư thiết bị điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ vấn thiết kế hệ thống, nghiên cứu giải pháp và triển khai các ứng dụng công nghệ tích hợp.

 4.     NĂNG LỰC NHÂN SỰ, ĐỐI TÁC CÔNG NGHỆ

Tổng công ty GTEL được kế thừa kinh nghiệm của đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, bảo mật,…trong và ngoài Ngành Công an, là những người đã tham gia xây dựng chính sách, xây dựng hạ tầng kỹ thuật viễn thông, công nghệ thông tin, đảm bảo phục vụ các hoạt động thông thường, phục vụ yêu cầu chiến đấu, công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội của lực lượng Công an hàng chục năm qua.

Đồng thời, sau khi hoàn thành Dự án thiết lập mạng viễn thông di động Beeline (nay là Gmobile) và hàng loạt các dự án cung cấp giải pháp, công nghệ, thiết bị cho các đơn vị trong và ngoài Ngành Công an, đến nay Tổng công ty GTEL đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công nhân viên có trình độ cao, đồng thời là đối tác hợp tác của các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới.

4.1. Nhân sự

Tổng số cán bộ công nhân viên các đơn vị chức năng và các công ty con trong toàn Tổng công ty là gần 700 người (tháng 07/2019). Trong đó:

  • Phân bố:
    • Tại Hà Nội: 400 người
    • Tại Đà Nẵng: 75 người
    • Tại TP Hồ Chí Minh: 200 người
  • Trình độ chuyên môn: tỉ lệ cán bộ, công nhân viên có trình độ Đại học trở lên chiếm trên 80%,
  • Ngành nghề chủ yếu: Công nghệ thông tin; Điện tử – Viễn thông; Điện; Tự động hóa; Quản trị kinh doanh, Tài chính – Kinh tế; Xây dựng.

4.2. Các đối tác công nghệ tiêu biểu

GTEL hiện là đối tác hợp tác của các công ty, tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới:

 Microsoft , IBM ,Juniper…

 

5.     CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

GTEL đặt mục tiêu phát triển thành một doanh nghiệp công nghệ hàng đầu Việt Nam, cung cấp các dịch vụ chất lượng cao trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, bảo mật và an ninh mạng, tích hợp hệ thống,….đến các cơ quan, tổ chức Nhà nước, các doanh nghiệp, cá nhân với cam kết luôn là “đối tác có trách nhiệm” của khách hàng. Phấn đấu trở thành doanh nghiệp đầu đàn trong khối doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công an

 6.     6. KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH

6.1. Kế hoạch sản xuất, kinh doanh 05 năm

Thực hiện Quyết định 707/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016-2020”, Tổng công ty GTEL đã xây dựng Đề án Tái cơ cấu Tổng công ty GTEL theo hướng đánh giá, tổ chức lại bộ máy tại các công ty trực thuộc đảm bảo tinh gọn, chuyên nghiệp, tối ưu hoá nguồn lực; phân chia lại chức năng, nhiệm vụ đảm bảo không trùng dẫm; tập trung vào nhiệm vụ xây dựng và hình thành công nghiệp an ninh mạng, góp phần xây dựng và đảm bảo an ninh mạng cho Chính phủ điện tử, Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã. Phương án tái cơ cấu Tổng công ty GTEL và các công ty trực thuộc, cụ thể như sau:

6.1.1. Tổng công ty Viễn thông Toàn Cầu (Tổng công ty GTEL)

Giữ nguyên hình thức Tổng công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên do Bộ Công an sở hữu 100%, tập trung xây dựng chiến lược, phát triển thị trường, ứng dụng công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới; thực hiện công tác tổ chức, cán bộ, đào tạo nguồn nhân lực và đổi mới quản trị doanh nghiệp tại Tổng công ty và các công ty trực thuộc; tham gia quản lý và đại diện vốn nhà nước tại các đơn vị thành viên; hình thành trung tâm nghiên cứu, thu hút và đào tạo nhân tài phục vụ phát triển công nghệ và các giải pháp bảo đảm an ninh mạng dưới hình thức dân sự; xây dựng năng lực tự sản xuất, cung cấp dịch vụ, trang thiết bị, giải pháp gắn với bảo vệ an ninh mạng, tăng tỉ lệ nội địa hóa các sản phẩm công nghệ thông tin; triển khai các giải pháp bảo đảm an ninh mạng cho Bộ Công an, các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước; là đầu mối để mở rộng hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh mạng.

6.1.2. Công ty TNHH CNTT và Truyền thông Gtel (Gtel ICT)

Tập trung phát triển các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng; cung cấp dịch vụ, giải pháp trong lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin và truyền thông; triển khai các giải pháp bảo đảm an ninh mạng cho các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Công an các cấp từ trung ương đến địa phương và các cơ sở hạ tầng trọng yếu khác như ngân hàng, dầu khí, điện lực, hàng không.

6.1.3. Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Gtel (Gtel TSC)

Giữ nguyên hình thức công ty cổ phần và nghiên cứu, triển khai các phương án tái cấu trúc vốn chủ sở hữu nhằm huy động thêm nguồn lực để phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, Tổng công ty GTEL vẫn luôn nắm cổ phần chi phối. Tập trung kinh doanh, cung ứng vật tư, dịch vụ kỹ thuật trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin; đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, hạ tầng kỹ thuật cho các cơ quan, tổ chức thuộc Bộ Công an, các cơ quan nhà nước thuộc các bộ, ban ngành khác và các khách hàng doanh nghiệp.

6.1.4. Công ty TNHH Nhà nước MTV Truyền dẫn và Dịch vụ hạ tầng GTel (Gtel TIS)

Chuyên kinh doanh dịch vụ thiết kế, xây lắp công trình, hạ tầng kỹ thuật truyền dẫn, bảo trì, tối ưu hoá và khắc phục sự cố mạng lưới viễn thông di động; triển khai và cho thuê hạ tầng viễn thông, hệ thống truyền dẫn trên phạm vi toàn quốc. Gtel TIS sẽ là đơn vị thi công các cơ sở hạ tầng viễn thông, cho Gtel Mobile thuê để triển khai dịch vụ viễn thông di động trên các hạ tầng này.

6.1.5. Công ty Cổ phần Viễn thông di động Toàn cầu (Gtel Mobile)

Giữ nguyên hình thức công ty cổ phần do doanh nghiệp nhà nước là Tổng công ty GTEL đầu tư ra ngoài, chỉ thực hiện cơ cấu lại vốn góp và thay đổi nhà đầu tư. Theo đó, tất cả các khoản vốn do Tổng công ty GTEL, Gtel TSC và Gtel TIS đầu tư vào Gtel Mobile hiện nay sẽ thống nhất do Tổng công ty GTEL quản lý khi thực hiện tái cơ cấu. Việc tái cơ cấu sẽ tạo điều kiện cho Gtel Mobile phát triển, thực sự trở thành một doanh nghiệp viễn thông mạnh, có khả năng cung cấp dịch vụ băng thông rộng di động trên nền tảng công nghệ 4G LTE, 5G và các công nghệ tiên tiến khác trong tương lai; đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; góp phần tạo nguồn lực cho Tổng công ty GTEL xây dựng công nghiệp an ninh mạng của Bộ Công an.

6.2. Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển năm 2020

Tổng Công ty GTEL tập trung đánh giá, tổ chức lại bộ máy tại các công ty trực thuộc đảm bảo tinh gọn, chuyên nghiệp, tối ưu hoá nguồn lực; phân chia lại chức năng, nhiệm vụ đảm bảo không trùng dẫm; tập trung vào nhiệm vụ xây dựng và hình thành công nghiệp an ninh mạng, góp phần xây dựng và đảm bảo an ninh mạng, tập trung vào các lĩnh vực sau:

– Cung cấp các dịch vụ phát triển mạng viễn thông di động cho Gtel Mobile: phát triển hạ tầng truyền dẫn, nhà trạm; xuất, nhập khẩu thiết bị viễn thông; cung cấp giải pháp phần cứng, phần mềm cho mạng viễn thông di động;…

– Cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông: cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng dịch vụ viễn thông di động 5G của Gtel Mobile như: dịch vụ OTT, tin nhắn thương hiệu, wifi doanh nghiệp, đầu số ngắn giải đáp thông tin…

– Nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ viễn thông, bảo mật mạng: Sản xuất thiết bị, giải pháp bảo mật như thiết bị chuyển mạch (switch) bảo mật, mã hóa đường truyền; camera AI tích hợp xác thực, nhận diện khuôn mặt, dáng người, giọng nói; chế tạo điện thoại bảo mật; chế tạo xe chỉ huy, trinh sát thông tin hiện trường cho lực lượng công an để đối phó với các tình huống bạo loạn, biểu tình và ngăn chặn tấn công bằng UAV, drone;…

– Tích hợp hệ thống và phát triển phần mềm: Xây dựng và tích các hệ thống thông tin quan trọng cho các Bộ, ngành và Chính phủ; Phát triển phần mềm phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử và các dịch vụ công, cung cấp phần mềm theo nhu cầu của thị trường…

– Phát triển dịch vụ tài chính di động: Dịch vụ ví điện tử (E-wallet) – Thực hiện liên doanh/liên kết với các đối tác đã được cấp phép cung cấp dịch vụ thanh toán trung gian; Dịch vụ Mobile Money (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương) – Liên kết với một số ngân hàng ở Việt Nam để thực hiện các dự án tiếp theo …

– Cung cấp sản phẩm, dịch vụ an ninh thông tin, bảo mật: cung cấp dịch vụ an ninh mạng cho cơ quan chính quyền, doanh nghiệp như dịch vụ giám sát an ninh mạng, kiểm tra, đánh giá bảo mật hệ thống, ứng cứu sự cố an ninh mạng…

 7.     Tình hình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hàng năm

Thực hiện chủ trương sắp xếp tinh gọn bộ máy, năm 2020, Tổng công ty GTEL chỉ đạo các công ty thành viên nghiên cứu, đề xuất thay đổi mô hình doanh nghiệp đảm bảo tinh gọn, hiệu quả; đề nghị Gtel Mobile chuyển đổi mô hình doanh nghiệp từ quản lý theo chiều ngang sang quản lý theo chiều dọc để phù hợp với cơ cấu nhân sự và tình hình doanh nghiệp.